Kinh
tế dữ liệu chỉ có thể phát triển khi dữ liệu được lưu thông giữa các
chủ thể. Tuy nhiên, khả năng lưu thông không phụ thuộc riêng vào hạ tầng
kỹ thuật hay mức độ kết nối mà còn gắn với niềm tin đối với dữ liệu và
môi trường dữ liệu. Bài viết phân tích các yếu tố hình thành niềm tin dữ
liệu, đánh giá thực trạng ở Việt Nam và trao đổi một số định hướng nhằm
góp phần phát triển kinh tế dữ liệu.
Mở đầu
Dữ liệu đang chuyển từ vai trò thông tin
hỗ trợ sang tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Sự
phát triển của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây và
hạ tầng kết nối số làm mở rộng khả năng tạo lập, xử lý và khai thác
nguồn lực này cả về quy mô lẫn phạm vi ứng dụng. Thay vì được quản lý
chủ yếu trong các hệ thống riêng lẻ, dữ liệu ngày càng được kết nối,
chia sẻ và sử dụng giữa nhiều cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
Sự thay đổi này cũng làm dịch chuyển
cách tiếp cận đối với kinh tế số. Nếu trước đây kinh tế số thường gắn
với nền tảng số, thương mại điện tử hoặc dịch vụ trực tuyến thì hiện nay
chiều sâu phát triển phụ thuộc rất lớn vào dữ liệu và AI. Dữ liệu trở
thành đầu vào của phân tích, tự động hóa và ra quyết định; AI chuyển hóa
nguồn lực này thành tri thức, dịch vụ và giá trị mới. Theo các nghiên
cứu quốc tế, kinh tế số hiện chiếm khoảng 17,3% GDP toàn cầu, tương
đương hơn 20 nghìn tỷ USD, trong đó AI, điện toán đám mây, hạ tầng dữ
liệu và các công nghệ xử lý dữ liệu đang trở thành những yếu tố tái định
hình năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngày nay, kinh tế dữ liệu và kinh tế
AI đang dần trở thành hai cấu phần nền tảng của kinh tế số hiện đại,
trong đó dữ liệu giữ vai trò nguồn lực cốt lõi của quá trình tạo lập giá
trị.
Kinh tế dữ liệu được hình thành trên cơ
sở tạo lập, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các chủ thể khác
nhau. Trong mô hình này, giá trị dữ liệu không phụ thuộc đơn thuần vào
khối lượng dữ liệu được tạo lập mà gắn với khả năng lưu thông, kết hợp
và tái sử dụng. Thực tiễn chuyển đổi số tại Việt Nam cho thấy nhiều dịch
vụ số chỉ có thể vận hành hiệu quả khi dữ liệu được khai thác liên
thông giữa nhiều hệ thống. Việc triển khai Đề án 06, phát triển định
danh điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến hay mở rộng các ứng dụng
tài chính số đều gắn với quá trình kết nối và sử dụng dữ liệu từ nhiều
nguồn khác nhau.
Dữ liệu chỉ có thể phát huy giá trị khi
được đưa vào quá trình chia sẻ, kết nối và khai thác. Quá trình đó cũng
đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng, quyền kiểm soát, quyền và
lợi ích của các chủ thể, cũng như yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh trong
quá trình lưu thông dữ liệu. Trong bối cảnh đó, niềm tin dữ liệu trở
thành một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định chia sẻ, sử dụng
và lưu thông dữ liệu giữa các chủ thể tham gia nền kinh tế số.
Tại Việt Nam, quá trình hoàn thiện thể
chế đang tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của kinh tế dữ liệu.
Luật Dữ liệu năm 2024 tạo cơ sở pháp lý cho quản trị, kết nối và chia
sẻ; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 bổ sung cơ chế bảo vệ quyền của
các chủ thể; nhiều chương trình chuyển đổi số quốc gia tiếp tục thúc
đẩy khai thác và sử dụng nguồn lực này trong hoạt động quản lý, sản xuất
và cung cấp dịch vụ. Cùng với đó, khuôn khổ pháp lý tiếp tục được hoàn
thiện.
Trên cơ sở đó, bài viết xem xét niềm tin
dữ liệu như một điều kiện của phát triển kinh tế dữ liệu; phân tích các
yếu tố hình thành niềm tin trong môi trường số; đồng thời trao đổi một
số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng môi trường dữ liệu tin cậy ở Việt
Nam hiện nay.
Kinh tế dữ liệu và vai trò của niềm tin dữ liệu
.png)
Vai trò của dữ liệu đang thay đổi cùng
với sự phát triển của AI, công nghệ xử lý dữ liệu lớn và các nền tảng
số. Nếu trước đây dữ liệu chủ yếu phục vụ lưu trữ, thống kê hoặc hỗ trợ
ra quyết định thì hiện nay đã tham gia trực tiếp vào quá trình tạo lập
giá trị trong sản xuất, cung cấp dịch vụ và quản trị. Một bộ dữ liệu dân
cư có thể được sử dụng cho xác thực điện tử, cung cấp dịch vụ công,
đánh giá tín dụng hoặc hỗ trợ phát hiện gian lận. Các bộ dữ liệu giao
dịch, logistics và hành vi người dùng trở thành đầu vào của các mô hình
dự báo, hệ thống phân tích và ứng dụng AI. Trong nhiều trường hợp, dữ
liệu không còn đóng vai trò hỗ trợ mà đã trở thành một yếu tố tham gia
trực tiếp vào quá trình vận hành và tạo ra giá trị.
Khác với nhiều loại tài nguyên truyền
thống, dữ liệu không mất đi sau khi sử dụng. Một bộ dữ liệu có thể tiếp
tục tạo ra giá trị khi được kết hợp với các nguồn khác hoặc được khai
thác bằng những phương pháp phân tích mới. Giá trị này thường không xuất
hiện tại thời điểm được tạo lập mà được hình thành trong quá trình lưu
thông, kết nối, xử lý và tái sử dụng. Chính đặc điểm đó tạo nên sự khác
biệt cơ bản giữa kinh tế dữ liệu và các mô hình kinh tế dựa chủ yếu vào
tài nguyên vật chất.
Thực tiễn chuyển đổi số tại Việt Nam cho
thấy, nhiều dịch vụ số chỉ có thể vận hành trên cơ sở kết nối dữ liệu
từ nhiều hệ thống khác nhau. Việc triển khai Đề án 06,
phát triển định danh điện tử, dịch vụ công trực tuyến hay các nền tảng
thanh toán số đều dựa trên khả năng đối chiếu và khai thác dữ liệu từ
nhiều nguồn. Trong những trường hợp này, giá trị không nằm ở từng cơ sở
dữ liệu riêng lẻ mà được tạo ra từ khả năng liên thông dữ liệu giữa các
hệ thống. Điều này khẳng định, dữ liệu không còn được nhìn nhận đơn
thuần như sản phẩm của hoạt động quản lý hoặc sản xuất mà đã trở thành
một nguồn lực được khai thác và tạo lập giá trị trong nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Cùng với sự thay đổi về vai trò của dữ
liệu, trọng tâm quản trị cũng có sự dịch chuyển. Trước đây, sự quan tâm
chủ yếu tập trung vào hệ thống thông tin hoặc môi trường lưu trữ. Trong
kinh tế dữ liệu, bản thân dữ liệu và các quan hệ phát sinh trong quá
trình tạo lập, chia sẻ, khai thác và sử dụng trở thành đối tượng quản
trị quan trọng. Theo đó, trọng tâm quản trị chuyển từ nơi lưu trữ sang
quá trình kết nối, khai thác và sử dụng giữa các chủ thể khác nhau.
Sự phát triển của điện toán đám mây, AI,
nền tảng số và các mô hình xử lý phân tán làm mở rộng phạm vi lưu thông
dữ liệu. Dữ liệu có thể được tạo lập tại một tổ chức, lưu trữ trên hạ
tầng của chủ thể khác, kết hợp với nhiều nguồn thông tin khác nhau và
tiếp tục được sử dụng cho những mục đích mới. Quá trình này làm gia tăng
giá trị khai thác nhưng đồng thời cũng đặt ra các vấn đề liên quan đến
chất lượng, quyền kiểm soát, trách nhiệm trong sử dụng và bảo vệ dữ
liệu.
Lưu thông dữ liệu không chỉ là vấn đề
kết nối kỹ thuật. Quyết định chia sẻ, khai thác hoặc giao dịch luôn gắn
với việc cân nhắc lợi ích, rủi ro và trách nhiệm trong quá trình sử
dụng. Người dân khó yên tâm cung cấp thông tin nếu không biết thông tin
của mình được thu thập và sử dụng như thế nào. Doanh nghiệp cũng khó mở
rộng chia sẻ khi chưa xác định rõ phạm vi sử dụng, trách nhiệm của các
bên liên quan và cơ chế xử lý rủi ro sau khi thông tin được chuyển giao.
Thực trạng mất an toàn vẫn diễn biến phức tạp. Theo thống kê công bố
năm 2026, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025 đã có hơn 110 triệu bản ghi bị
rao bán trái phép trên các diễn đàn; riêng quý III/2025 ghi nhận hơn 502
triệu bản ghi của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp bị rò rỉ, số tài
khoản cá nhân bị đánh cắp tăng 64% so với quý trước. Những sự cố này
làm suy giảm niềm tin của các chủ thể tham gia, qua đó ảnh hưởng trực
tiếp đến khả năng lưu thông và khai thác dữ liệu.
Chính trong quá trình lưu thông vấn đề
niềm tin dữ liệu được đặt ra. Có thể hiểu niềm tin dữ liệu là sự tin
tưởng của các chủ thể đối với thông tin và môi trường mà họ tham gia.
Niềm tin đó được tạo lập khi thông tin có thể được xác thực, kiểm chứng,
kiểm soát và bảo đảm an toàn, an ninh trong suốt quá trình xử lý. Đồng
thời, các chủ thể có cơ sở để biết thông tin đến từ đâu, được sử dụng
như thế nào và ai chịu trách nhiệm trong từng khâu xử lý. Trong nền kinh
tế dữ liệu, niềm tin dữ liệu có vị trí tương tự như niềm tin thị trường
trong nền kinh tế truyền thống. Nếu dữ liệu là nguồn lực của kinh tế số
thì niềm tin dữ liệu là điều kiện để nguồn lực đó được đưa vào lưu
thông, chia sẻ và khai thác. Độ tin cậy càng cao, khả năng lưu thông
càng lớn; ngược lại, sự thiếu hụt niềm tin sẽ làm gia tăng xu hướng khép
kín, hạn chế chia sẻ và làm giảm khả năng tạo lập giá trị.
Những yếu tố hình thành niềm tin dữ liệu
Niềm tin dữ liệu không tự hình thành
cùng với quá trình số hóa hay sự gia tăng về quy mô thông tin. Trên thực
tế, nhiều hệ thống sở hữu khối lượng dữ liệu lớn nhưng khả năng chia sẻ
và khai thác vẫn còn hạn chế do các chủ thể tham gia chưa thực sự tin
tưởng vào nguồn thông tin và môi trường mà họ tham gia. Vì vậy, bên cạnh
hạ tầng kỹ thuật và khả năng kết nối, niềm tin này còn được hình thành
từ nhiều yếu tố khác nhau.
Yếu tố đầu tiên là chất lượng, dữ liệu
thiếu chính xác, không đầy đủ, không được cập nhật hoặc không xác định
được nguồn gốc thường làm giảm giá trị sử dụng và ảnh hưởng đến các
quyết định được đưa ra trên cơ sở dữ liệu đó. Trong môi trường liên
thông, một sai lệch có thể lan truyền qua nhiều hệ thống và tạo ra những
tác động lớn hơn so với mô hình quản lý dữ liệu khép kín trước đây.
Thực tiễn cho thấy nhiều cơ quan, tổ chức đã hình thành được các kho dữ
liệu quy mô lớn nhưng còn thiếu chuẩn hóa, trùng lặp, thiếu thông tin mô
tả hoặc khó tích hợp liên thông giữa các hệ thống. Không ít trường hợp
dữ liệu chưa bảo đảm yêu cầu đúng, đủ, sạch, sống, làm hạn chế khả năng
khai thác và chia sẻ. Đối với AI và phân tích dữ liệu lớn, những sai sót
này có thể tiếp tục được khuếch đại do chất lượng kết quả xử lý phụ
thuộc trực tiếp vào chất lượng dữ liệu đầu vào.
Gắn với chất lượng dữ liệu là khả năng
xác thực. Khi nguồn gốc, nhật ký quá trình xử lý và các thay đổi có thể
được kiểm chứng, mức độ tin cậy đối với dữ liệu được củng cố. Trong
nhiều trường hợp, việc xác định dữ liệu được tạo lập bởi chủ thể nào,
được sử dụng ra sao và đã trải qua những quá trình xử lý nào có ý nghĩa
quan trọng đối với quyết định khai thác hoặc chia sẻ. Khả năng xác thực
cũng tạo cơ sở bảo đảm tính minh bạch và khả năng truy vết trong toàn bộ
quá trình lưu chuyển.
Một yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp
đến niềm tin dữ liệu là khả năng kiểm soát trong toàn bộ vòng đời xử lý.
Người dân thường quan tâm thông tin của mình được sử dụng vào mục đích
gì, ai được tiếp cận và được lưu giữ trong thời gian bao lâu. Đối với
doanh nghiệp, những vấn đề này còn liên quan đến bí mật kinh doanh, lợi
thế cạnh tranh và trách nhiệm pháp lý. Trong môi trường số, dữ liệu có
thể được chia sẻ nhiều lần, kết hợp với nhiều nguồn khác nhau hoặc tiếp
tục được sử dụng cho những mục đích mới. Khi phạm vi sử dụng không được
xác định rõ, việc kiểm soát chưa chặt chẽ hoặc trách nhiệm của các bên
tham gia chưa được phân định minh bạch, mức độ sẵn sàng chia sẻ sẽ bị
ảnh hưởng.
Niềm tin dữ liệu cũng phụ thuộc vào mức
độ bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể. Người dân và doanh nghiệp
chỉ sẵn sàng chia sẻ khi tin rằng thông tin của mình được sử dụng đúng
mục đích, không bị khai thác trái phép và các quyền, lợi ích hợp pháp
được tôn trọng. Gần đây, nhiều vụ việc liên quan đến lộ lọt dữ liệu cá
nhân, mua bán trái phép hoặc sử dụng sai mục đích đã làm gia tăng quan
ngại đối với hoạt động thu thập và khai thác. Một số vụ việc rao bán dữ
liệu cá nhân trên không gian mạng cho thấy khoảng cách giữa khả năng thu
thập và bảo vệ quyền của chủ thể dữ liệu vẫn còn hiện hữu. Điều này ảnh
hưởng trực tiếp đến mức độ sẵn sàng tham gia, chia sẻ và cung cấp thông
tin của người dân và các tổ chức.
Một yếu tố quan trọng của niềm tin dữ
liệu là khả năng bảo đảm an toàn và an ninh. Khi dữ liệu được chia sẻ
giữa nhiều hệ thống, nhiều tổ chức và nhiều môi trường xử lý khác nhau,
các chủ thể tham gia cần có cơ sở để tin rằng thông tin được bảo vệ
trước các rủi ro về lộ lọt, mất mát, sai lệch hoặc khai thác trái phép.
Trong quá trình đó, an toàn dữ liệu và an ninh dữ liệu có mối quan hệ
chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất. An toàn dữ liệu hướng tới duy
trì tính chính xác, toàn vẹn và khả năng sẵn sàng. An ninh dữ liệu
liên quan đến khả năng kiểm soát, quản trị và duy trì quyền quyết định
trong suốt quá trình lưu thông. Vì vậy, niềm tin được tạo lập từ cả khả
năng bảo vệ trước các rủi ro kỹ thuật và việc xác định rõ chủ thể đang
nắm giữ, khai thác, sử dụng và chịu trách nhiệm trong từng khâu xử lý.
Đây cũng là cơ sở để các chủ thể yên tâm tham gia vào quá trình chia sẻ,
kết nối và khai thác.
Bên cạnh yêu cầu về an toàn và an ninh,
tính minh bạch và khả năng truy vết cũng có ý nghĩa quan trọng đối với
việc duy trì niềm tin dữ liệu. Trong nền kinh tế dữ liệu, niềm tin khó
được duy trì nếu các chủ thể không thể kiểm chứng nguồn gốc, mục đích sử
dụng hoặc trách nhiệm của các bên tham gia xử lý. Khi lịch sử lưu
chuyển, quá trình xử lý và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định rõ
ràng, việc giải trình và xử lý các tranh chấp liên quan cũng trở nên
minh bạch hơn.
Trên thực tế, quyết định chia sẻ và khai
thác thường không phụ thuộc vào một yếu tố riêng lẻ. Chất lượng, khả
năng xác thực, quyền kiểm soát, mức độ bảo đảm quyền và lợi ích của chủ
thể, an toàn, an ninh và khả năng truy vết cùng tác động đến mức độ tin
cậy của môi trường dữ liệu. Khi các yếu tố này được bảo đảm đồng bộ, dữ
liệu sẽ có điều kiện lưu thông rộng hơn và tham gia sâu hơn vào quá
trình tạo lập giá trị trong nền kinh tế số.
Thực trạng bảo đảm niềm tin dữ liệu trong phát triển kinh tế dữ liệu ở Việt Nam
.png)
Quá trình chuyển đổi số quốc gia trong
những năm gần đây đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của kinh tế dữ liệu tại Việt Nam. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở
dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng tích hợp, chia sẻ từng bước được
hình thành và mở rộng. Đến hết năm 2025, cả nước đã xây dựng tập trung
32 trong tổng số 105 cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên
ngành theo kế hoạch; trong đó 16 cơ sở dữ liệu đã có nền tảng tương đối
hoàn chỉnh. Việc kết nối và khai thác các cơ sở dữ liệu này đã thay thế
hơn 13.500 thành phần hồ sơ trong khoảng 3.700 thủ tục hành chính, tạo
cơ sở từng bước hiện thực hóa nguyên tắc "khai báo một lần, sử dụng
nhiều lần", đồng thời cho thấy dữ liệu đang được sử dụng như một hạ tầng
phục vụ cải cách thủ tục hành chính và phát triển dịch vụ số.
Đề án 06 với hạt nhân là cơ sở dữ liệu
quốc gia về dân cư, căn cước công dân gắn chip và định danh điện tử là
minh chứng rõ nét cho quá trình này. Trong nhiều trường hợp, người dân
không còn phải cung cấp lại những thông tin đã có trong các cơ sở dữ
liệu của nhà nước. Kết quả triển khai đến tháng 1/2026 cho thấy việc
khai thác và sử dụng dữ liệu đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Theo
Bộ Công an, việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến giúp tiết kiệm khoảng
2.505 tỷ đồng mỗi năm, riêng năm 2025 ước đạt 4.184 tỷ đồng. Đến nay,
100% địa phương đã triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành
chính và nền tảng tích hợp, chia sẻ cấp tỉnh; 100% (34/34) địa phương
đã phê duyệt cấp độ an toàn hệ thống thông tin, tất cả đều đáp ứng cấp
độ 3 để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những kết quả này
cho thấy dữ liệu đang từng bước trở thành hạ tầng của các giao dịch và
dịch vụ trên môi trường số, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế dữ liệu.
Song song với quá trình phát triển hạ
tầng dữ liệu, khung pháp lý liên quan đến dữ liệu cũng từng bước được
hoàn thiện. Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025
cùng các quy định về giao dịch điện tử, an toàn thông tin mạng và an
ninh mạng đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thu thập, chia sẻ, khai
thác và bảo vệ dữ liệu. Từ góc độ niềm tin dữ liệu, đây là những nền
tảng quan trọng nhằm xác lập quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo vệ đối với
các chủ thể tham gia môi trường dữ liệu số.
Tuy nhiên, sự phát triển của hạ tầng và
khả năng mở rộng kết nối, liên thông chưa đồng nghĩa với việc niềm tin
được củng cố tương ứng. Kết quả khảo sát 2.822 hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu
trong quá trình triển khai Đề án 06 đến tháng 12/2025 cho thấy, 16,5%
hệ thống cần tiếp tục nâng cấp và 15,4% cần xây dựng mới. Trong thực
tiễn, nhiều tổ chức đã hình thành các kho dữ liệu quy mô lớn nhưng chất
lượng chưa đồng đều; còn phân tán, thiếu chuẩn hóa, thiếu thông tin mô
tả hoặc khó tích hợp giữa các hệ thống. Những hạn chế này ảnh hưởng trực
tiếp đến khả năng chia sẻ, khai thác và phân tích, đặc biệt trong các
ứng dụng AI.
Một vấn đề đáng chú ý khác là khoảng
cách giữa khả năng kết nối và khả năng lưu thông. Trở ngại không chủ yếu
nằm ở hạ tầng kỹ thuật mà thường liên quan đến phạm vi chia sẻ, trách
nhiệm quản lý sau chia sẻ và khả năng kiểm soát trong các môi trường sử
dụng tiếp theo. Nhiều tổ chức sẵn sàng kết nối hệ thống nhưng vẫn thận
trọng trong việc chia sẻ khi chưa xác định rõ quyền, trách nhiệm và cơ
chế xử lý các rủi ro có thể phát sinh.
Những năm gần đây, sự phát triển của AI,
điện toán đám mây và các nền tảng số tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới
đối với niềm tin dữ liệu. Trong nhiều mô hình dịch vụ hiện nay, dữ liệu
được tạo lập, lưu trữ, xử lý và khai thác bởi nhiều chủ thể khác nhau
thay vì nằm trong một hệ thống khép kín. Chuỗi xử lý dữ liệu kéo dài qua
nhiều chủ thể làm cho việc xác định trách nhiệm, kiểm soát và giám sát
quá trình sử dụng dữ liệu trở nên phức tạp hơn.
Đối với AI, chất lượng dữ liệu đầu vào
ảnh hưởng trực tiếp đến độ tin cậy của kết quả xử lý. Dữ liệu sai lệch,
không đầy đủ hoặc bị thao túng có thể tiếp tục được khuếch đại sai sót
trong quá trình huấn luyện và vận hành mô hình. Trong khi đó, việc sử
dụng các nền tảng điện toán đám mây hoặc dịch vụ AI từ bên ngoài giúp mở
rộng khả năng xử lý dữ liệu nhưng cũng làm gia tăng mức độ phụ thuộc
vào hạ tầng và dịch vụ của các chủ thể khác.
Lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới cũng
là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế dữ liệu.
Cùng với cơ hội mở rộng hợp tác và khai thác là những yêu cầu mới về
quyền kiểm soát, trách nhiệm pháp lý, khả năng giám sát và xử lý khi xảy
ra sự cố hoặc tranh chấp. Việc giải quyết những vấn đề này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến mức độ tin cậy của môi trường số cũng như khả năng lưu
thông và khai thác dữ liệu trong dài hạn.
Có thể thấy Việt Nam đã hình thành nhiều
điều kiện quan trọng cho sự phát triển của kinh tế dữ liệu. Tuy nhiên,
những vấn đề về chất lượng, quản trị, quyền kiểm soát và tính minh bạch
trong quá trình xử lý vẫn tiếp tục đặt ra. Việc giải quyết các vấn đề
này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ lưu thông và khả năng chuyển hóa
nguồn lực này thành giá trị trong nền kinh tế số.
Xây dựng niềm tin dữ liệu trong phát triển kinh tế dữ liệu ở Việt Nam
Việt Nam đã từng bước hình thành hạ
tầng, các cơ sở dữ liệu quốc gia và khuôn khổ pháp lý phục vụ phát triển
kinh tế dữ liệu. Tuy nhiên, khả năng lưu thông trên thực tế vẫn chịu
tác động bởi nhiều yếu tố như chất lượng, quyền kiểm soát, bảo vệ quyền
và lợi ích của chủ thể, cũng như mức độ bảo đảm an toàn và an ninh. Đây
cũng là những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin dữ liệu và cần
tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới.
Một là, nâng cao khả năng xác thực và truy xuất nguồn gốc
Khả năng xác thực cần được bảo đảm trong
toàn bộ vòng đời, từ tạo lập, cập nhật, chia sẻ đến khai thác. Việc
chuẩn hóa, xác lập nguồn gốc, ghi nhận lịch sử xử lý và duy trì khả năng
truy xuất giúp kiểm chứng thông tin, nâng cao độ tin cậy và hỗ trợ kết
nối giữa các hệ thống. Nhờ vậy, quá trình chia sẻ, kết hợp và tái sử
dụng dữ liệu giữa nhiều môi trường khác nhau có thể được kiểm soát chặt
chẽ hơn.
Hai là, bảo đảm quyền kiểm soát và quyền lợi hợp pháp của các chủ thể dữ liệu
Người dân và doanh nghiệp cần biết thông
tin của mình được sử dụng vào mục đích gì, trong phạm vi nào và ai chịu
trách nhiệm trong quá trình xử lý. Cùng với việc hoàn thiện quy định về
quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cần minh bạch hơn việc thu
thập, chia sẻ và khai thác; bảo đảm chủ thể có thể thực hiện các quyền
theo quy định của pháp luật đối với thông tin của mình.
Ba là, tăng cường năng lực bảo đảm an toàn và an ninh dữ liệu trong quá trình lưu thông
Khi được chia sẻ giữa nhiều hệ thống và
nhiều chủ thể, dữ liệu cần được bảo vệ xuyên suốt từ tạo lập, lưu trữ,
truyền đưa đến khai thác và sử dụng. Cùng với bảo vệ dữ liệu cá nhân,
cần triển khai đồng bộ các biện pháp về an toàn thông tin, an ninh mạng
và an ninh dữ liệu; chú trọng giám sát, cảnh báo sớm và ứng phó sự cố.
Việc bảo vệ cần được thực hiện đối với toàn bộ chuỗi xử lý thay vì chỉ
tập trung vào từng hệ thống riêng lẻ.
Bốn là, phát triển các công nghệ tạo lập độ tin cậy của dữ liệu
Khả năng xác thực, kiểm chứng và truy
vết cần được bảo đảm bằng các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Các công nghệ
mật mã, chữ ký số, chứng thực điện tử, xác thực điện tử và truy xuất
nguồn gốc góp phần bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn, khả năng chống chối
bỏ và giá trị pháp lý của thông tin trong suốt quá trình xử lý. Các công
nghệ này tạo nền tảng kỹ thuật cho các giao dịch và dịch vụ số.
Năm là, tăng cường quản trị dữ liệu dựa trên minh bạch và trách nhiệm giải trình
Trọng tâm quản trị cần chuyển từ quản lý
từng cơ sở dữ liệu sang quản trị toàn bộ quá trình lưu thông và khai
thác giữa các chủ thể. Các hoạt động thu thập, chia sẻ và sử dụng cần
được theo dõi, kiểm chứng và truy vết khi cần thiết. Đồng thời, cần hoàn
thiện cơ chế giám sát, giải trình và xử lý vi phạm để xác định rõ trách
nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ quá trình xử lý.
Kết luận
Kinh tế dữ liệu được hình thành trên cơ
sở chia sẻ, kết nối và khai thác giữa các chủ thể khác nhau. Trong mô
hình này, giá trị của dữ liệu không được quyết định bởi khả năng thu
thập hay lưu trữ đơn thuần mà phụ thuộc vào khả năng được đưa vào lưu
thông và sử dụng trong thực tiễn.
Quá trình lưu thông đó chỉ có thể diễn
ra khi các chủ thể có đủ cơ sở để tin tưởng vào nguồn gốc, chất lượng,
quá trình xử lý và cơ chế bảo vệ đối với dữ liệu mà họ tạo lập, chia sẻ
hoặc khai thác. Vì vậy, niềm tin dữ liệu không chỉ là kết quả của các
giải pháp kỹ thuật mà còn được hình thành từ khuôn khổ pháp lý, cơ chế
quản trị và trách nhiệm của các chủ thể tham gia môi trường dữ liệu.
Từ góc độ đó, niềm tin dữ liệu có thể
được xem là một điều kiện của phát triển kinh tế dữ liệu. Khi niềm tin
được bảo đảm, dữ liệu có điều kiện lưu thông rộng hơn, được khai thác
hiệu quả hơn và từng bước trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội.
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Bí thư (2025), Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 về tăng
cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong
hệ thống chính trị.
2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về
đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số quốc gia.
3. Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, thông qua ngày 30/11/2024.
4. Quốc hội (2025), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, thông qua ngày 26/6/2025.
5. Quốc hội (2025), Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, thông qua ngày 10/12/2025.
6. Chính phủ (2025), Nghị định số 194/2025/NĐ-CP ngày 03/7/2025
quy định chi tiết một số điều của Luật Giao dịch điện tử về cơ sở dữ
liệu quốc gia, kết nối, chia sẻ dữ liệu và dữ liệu mở phục vụ giao dịch
điện tử của cơ quan nhà nước.
7. Chính phủ (2025), Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22/10/2025
quy định kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ
thống chính trị.
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), “Kinh tế dữ liệu - trụ cột
tăng trưởng mới của Việt Nam trong thập kỷ tới”, Cổng Thông tin điện tử
Bộ Khoa học và Công nghệ.
9. Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia (2026), Kinh tế dữ liệu - Từ các mô
hình phát triển trên thế giới đến thực tiễn của Việt Nam, Hà Nội.
10. VnEconomy (2026), “Xây dựng nền kinh tế dữ liệu Việt Nam phát triển nhanh, an toàn, mở nhưng có kiểm soát”.
11. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD)
(2022), Going Digital to Advance Data Governance for Growth and
Well-being, OECD Publishing, Paris.
12. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD)
(2022), Going Digital Guide to Data Governance Policy Making, OECD
Publishing, Paris.
13. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD)
(2021), Digital Economy Report 2021: Cross-border Data Flows and
Development - For Whom the Data Flow, United Nations, Geneva.
14. World Bank (2021), World Development Report 2021: Data for Better Lives, World Bank, Washington, DC.
15. Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (2025), Thúc
đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ
phát triển Chính phủ số, kinh tế số, Cổng Thông tin điện tử Cục Cảnh
sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
16. Đài Tiếng nói Việt Nam (2026), Kết quả triển khai Đề án 06: Chuyển biến toàn diện, tạo nền tảng vững chắc, Báo Điện tử VOV.
17. Báo Công an nhân dân (2026), Báo động thực trạng dữ liệu cá
nhân bị lộ lọt, thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, Báo Công an nhân dân điện
tử.
18. Báo Nhân Dân (2026), Việt Nam trong cuộc đua kinh tế dữ liệu, Báo Nhân Dân điện tử.
|