Trong
những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được một số kết quả trong việc
chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa và chuẩn bị nguồn lực con người cho thời
kỳ mới. Hệ thống chính sách về chuyển đổi số trong văn hóa đang dần được
hoàn thiện, như: Chương trình Số hóa di sản Văn hóa Việt Nam giai đoạn
2021-2030, với mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn
hóa trên nền tảng số; Chương trình Chuyển đổi số của ngành văn hóa đến
năm 2025, định hướng 2030 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhằm đổi
mới căn bản hoạt động quản lý, phục vụ người dân tốt hơn trong môi
trường số; Luật Di sản văn hóa, trong đó quy định rõ yêu cầu về chuyển
đổi số trong lĩnh vực di sản, như bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, tiêu chuẩn
dữ liệu, an toàn, bảo mật và nguyên tắc không làm tổn hại tính nguyên
gốc của di sản khi số hóa. Đây là những khung pháp lý quan trọng tạo nền
tảng cho việc triển khai chuyển đổi số văn hóa.
Tính đến nay, Việt Nam có khoảng 41.000 di tích, danh thắng và gần
8.000 lễ hội truyền thống - một kho tàng đồ sộ đang dần được số hóa.
Ngành văn hóa đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, cho phép tra cứu, quản
lý thông tin di sản trên nền tảng số. Một số địa phương tiên phong ứng
dụng công nghệ 3D để số hóa và tạo bản sao kỹ thuật số cho các hiện vật
bảo tàng, di tích...
Chuyển đổi số cho phép số hóa di sản văn hóa, giúp lưu trữ, phổ biến
kho tàng văn hóa đến rộng rãi công chúng, giúp người dân dễ dàng tiếp
cận di sản mọi lúc, mọi nơi. Nhiều ứng dụng công nghệ mới đã tạo trải
nghiệm văn hóa độc đáo. Ngoài ra, chuyển đổi số giúp mở rộng không gian
giao lưu văn hóa. Qua internet và mạng xã hội, hình ảnh đất nước, con
người Việt Nam có thể quảng bá ra thế giới dễ dàng hơn. Các sản phẩm văn
hóa số (trò chơi điện tử, phim ảnh, âm nhạc…) có thể tiếp cận hàng
triệu người dùng toàn cầu.
Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Tiến Thư, Phó Viện trưởng Văn hóa và Phát
triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), chuyển đổi số cũng đặt
ra không ít thách thức, cụ thể như: Làn sóng văn hóa ngoại nhập tràn vào
qua mạng có thể lấn át các giá trị truyền thống nếu chúng ta không đủ
bản lĩnh và sáng tạo để lan tỏa văn hóa Việt Nam, đồng thời tiếp thu có
chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Việc giới trẻ dành nhiều thời gian
trên không gian mạng cũng dễ khiến họ xa rời sinh hoạt văn hóa cộng
đồng, giảm tương tác trực tiếp trong gia đình, xã hội.
Để xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên số, chúng ta
phải thực hiện nhiều giải pháp nhằm sử dụng không gian mạng một cách văn
minh, an toàn. Trong đó, gia đình, nhà trường và các đoàn thể cần quan
tâm định hướng việc sử dụng công nghệ của giới trẻ, lan tỏa những giá
trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
“Chúng ta cần đưa nội dung
giáo dục về văn hóa số, đạo đức số vào chương trình giáo dục phổ thông
và các chương trình truyền thông cộng đồng. Mỗi công dân, đặc biệt là
thế hệ trẻ, cần được trang bị kỹ năng “đề kháng” trước thông tin xấu và
biết tự bảo vệ dữ liệu cá nhân”.
TS Nguyễn Viết Chức,
Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Văn hóa -
Xã hội (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam