Từ loại rau chống đói, ông Ngọc đã
gây dựng thành vùng trồng rau má quy mô lớn, từng bước làm giàu trên
đồng đất quê hương.
Từ cây cứu đói đến sản phẩm chủ lực
Gần trưa, ông Lê Viết Ngọc vẫn lom khom ngoài luống rau má,
dùng tay vạch từng đám lá nhỏ xanh rì để xem có sâu hay không, thi
thoảng lại đứng lên, lau vội mồ hôi bằng vạt áo lấm lem đất.
Tại
Hợp tác xã Cây trồng và Vật nuôi Đồng Ngâu (thôn Phúc Gia, xã Thọ Long,
tỉnh Thanh Hóa), ông Ngọc vừa làm ông chủ vừa là công nhân. Ông không
chỉ sở hữu vùng trồng rau má hơn 2ha mà còn là "kỹ sư" vận hành vùng
trồng, từ khâu làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến, đóng
gói và tiếp thị sản phẩm. Có người nói ông ôm đồm, việc gì cũng tự tay
làm, ông chỉ cười: "Không phải tôi không tin ai, chỉ là tôi tự làm thì
thấy yên tâm hơn".
Với
ông Ngọc, rau má không chỉ là cây trồng mưu sinh mà còn là một phần ký
ức khó quên của những năm tháng nghèo khó. Gia đình có sáu anh em, bữa
ăn khi ấy nhiều hôm chỉ trông vào rau má thay cơm. "Rau má nuôi anh em
tôi lớn lên ở vùng này. Nghĩ lại vẫn còn ám ảnh, nhưng không ăn thì lấy
gì mà sống. Với người nghèo khi ấy, rau má không phải món ngon mà là thứ
giúp nhiều gia đình cầm cự qua ngày", ông nhớ lại.
Nói
về chuyện khởi nghiệp với cây rau má, ông Ngọc nhớ lại năm 2017, trận
lụt lớn quét qua, cuốn đi hầu hết hoa màu trong vườn. Sau khi nước rút,
đất bùn lầy, cây cối ngổn ngang, tưởng như không còn gì để bám víu. Thế
nhưng ở góc vườn vẫn còn sót lại một bụi rau má nhỏ bám trụ trên gò đất
cao.
Từ vài bụi rau má ban đầu, cây
dần bén đất, lan rộng theo thời gian. Thấy có thể tận dụng, vợ ông hái
đem ra chợ bán, mỗi ký được 25 - 30 nghìn đồng, đủ mua gạo cho bữa ăn
hằng ngày. Có thêm đồng ra đồng vào, ông bắt đầu chăm chút, gây lại
vườn. Rau má theo đó được nhân ra từng đám rồi thành luống, diện tích cứ
thế mở rộng dần.
Ông
Ngọc bảo, cây rau má ông trồng là rau má bản địa, loại mọc dại ở vùng
quê từ lâu. Lá nhỏ, cuống mảnh, thân dai, vị đậm và thơm hơn so với
giống lai. Tuy nhiên, khác với giống lai có thể trồng quanh năm, rau má
cổ chỉ hợp với vài tháng hè, chịu rét kém. Năng suất không cao bằng rau
má lai nhưng bù lại chất lượng vượt trội. Chính vì vậy, ông chấp nhận
làm việc khó để giữ cái chất riêng cho sản phẩm.
Chăm rau như con mọn
Để có được vùng trồng rau má
xanh mướt, sạch như bây giờ không hề đơn giản đối với ông Ngọc. Nhìn
qua thì việc trồng rau chỉ xoay quanh mấy khâu quen thuộc như làm đất,
bón phân hữu cơ, tưới nước đều đặn, nhưng với rau má, cái khó nhất lại
nằm ở việc giữ cho rau thật sạch.
Theo
ông Ngọc, vì không sử dụng thuốc diệt cỏ nên khâu vất vả nhất là nhổ cỏ
thủ công. Mỗi tháng công đoạn này phải làm đến ba lần và thuê mướn tốn
kém. Không dừng lại ở đó, sâu đất cũng là nỗi lo thường trực. Loại sâu
này phá hoại âm thầm, ban ngày gần như không thấy, đến tối mới bò lên ăn
lá. Muốn xử lý hiệu quả, người trồng phải canh đúng thời điểm, thường
vào khoảng 19 giờ tối, mang đèn ra đồng phun thuốc sinh học để diệt trừ.
Công việc cứ lặp đi lặp lại, đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ như chăm chút
cho từng đứa con trong nhà.
"Nếu phun
thuốc sai giờ coi như mất công, tốn của. Còn dùng thuốc hóa học thì rau
không còn sạch và hại cả cây", ông Ngọc giải thích.
Có
năm sâu đất bùng phát dữ dội, ông mất trắng liền bốn lứa rau. Không chỉ
thiệt hại sản lượng, mỗi đợt sâu phá hại ông còn phải cải tạo lại đất,
tốn thêm bao công sức và chi phí. Dẫu vậy ông vẫn chấp nhận, làm lại từ
đầu.
Không chỉ đảm bảo nguyên tắc sản
xuất an toàn cho riêng mình, ông Ngọc còn yêu cầu các hộ liên kết phải
tuân thủ nghiêm: Không dùng thuốc bảo vệ thực vật hay phân bón hóa học,
chỉ sử dụng chế phẩm sinh học trong chăm sóc. "Phân đạm tồn dư lâu,
không khác gì thuốc sâu. Rau nhìn xanh nhưng ăn không ngon. Chỉ cần nhìn
bằng mắt thường là biết rau có phun thuốc hay không. Rau dùng thuốc hóa
học hoặc tưới đạm thường xanh mướt hơn, nhưng lại nhanh hỏng", ông Ngọc
tiết lộ.
Rau má sau thu hoạch được
đưa vào quy trình xử lý nghiêm ngặt, từ phân loại, rửa, hấp sấy đến
nghiền và đóng gói, công đoạn nào cũng làm cẩn thận, tỉ mỉ. Đặc biệt,
khâu đóng gói được thực hiện trong phòng lạnh, khử khuẩn bằng tia UV để
bảo đảm an toàn và giữ chất lượng sản phẩm.
Chế biến sâu, nâng giá trị
Năm
2019, Hợp tác xã Cây trồng và Vật nuôi Đồng Ngâu được thành lập, đồng
thời liên kết với hơn 10 hộ dân cùng tham gia sản xuất. Đến nay, diện
tích trồng rau má đã mở rộng lên hơn 2ha, bình quân mỗi sào cho thu
hoạch khoảng 4 - 6 tạ mỗi tháng. Tính chung, sản lượng hằng năm đạt hàng
chục tấn.
Những năm gần đây, rau má
tươi tiêu thụ chậm hơn. Có lúc rau được mùa, giá lại xuống. Có khi rau
cắt xong chưa kịp bán đã héo. Nhìn sản phẩm làm ra không tiêu thụ được,
ông Ngọc bắt đầu nghĩ cách chuyển sang làm bột rau má, vừa bảo quản được
lâu hơn, vừa nâng giá trị sản phẩm.
Quyết
tâm làm đến cùng, ông mạnh dạn vay vốn, đầu tư máy sấy lạnh, máy sao
rang, máy đóng gói… với tổng chi phí lên tới vài tỷ đồng. Những ngày đầu
ông gần như "ăn ngủ" cùng máy móc để học hỏi và vận hành cho trơn tru.
Có thời điểm sản phẩm được thị trường đón nhận, đối tác nước ngoài tìm
đến đặt hàng. Nhưng khi niềm vui vừa chớm, khó khăn đã ập tới. Nguyên
liệu thô cồng kềnh, chi phí bảo quản cao, trong khi quy mô sản xuất còn
nhỏ khiến ông buộc phải tính lại hướng đi.
Các sản phẩm từ rau má của Hợp tác xã Cây trồng và Vật nuôi Đồng Ngâu đã có mặt tại nhiều tỉnh thành trên cả nước. Ảnh: Quốc Toản.
Chưa
kịp xoay xở để trả khoản nợ đầu tư, thiên tai lại dồn dập. Năm 2025,
những trận lũ lớn tràn qua, cuốn đi nhiều diện tích rau chưa kịp thu
hoạch, thiệt hại lên tới hàng tỷ đồng. Tiền công cho người làm vẫn còn
dang dở, áp lực càng chồng chất, đến nay vẫn chưa thanh toán hết.
Dẫu
vậy, ông Ngọc không bỏ cuộc. Để giảm áp lực đầu ra, ông chuyển hướng
chế biến sâu, làm thêm nhiều sản phẩm từ rau má như bột nguyên chất, rau
má đậu xanh, rau má hạt sen, trà rau má… Nhờ đó, thời gian bảo quản
được kéo dài, giá trị sản phẩm cũng được nâng lên. Hiện các sản phẩm đã
có mặt ở nhiều nơi, trong đó có các đại lý tại các tỉnh phía Bắc. Dù
nhận được không ít đơn hàng lớn, ông vẫn giữ cách làm chắc chắn, chưa
vội mở rộng ồ ạt để đảm bảo chất lượng.
Sau
khi trừ chi phí, mỗi năm gia đình ông thu về khoảng 500 - 600 triệu
đồng. Năm 2024 bột rau má Đồng Ngâu được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao
và đạt chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm.
Sản
phẩm bột rau má giữ nguyên vẹn mùi vị, màu sắc và hàm lượng dưỡng chất
tốt có trong rau má tươi, không chứa chất bảo quản, không pha trộn thêm
bất kỳ thành phần phụ gia hoá học nào. Hợp tác xã Cây trồng và Vật nuôi
Đồng Ngâu duy trì việc làm thường xuyên cho hơn 10 lao động, chủ yếu là
người cao tuổi trong vùng với thu nhập trung bình từ 4 - 6 triệu
đồng/người/tháng.