Nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp kiểm soát và khai thác hiệu quả nguồn nước sinh hoạt gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tại các tỉnh khu vực
miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lào Cai... mà điển hình là khu vực Cao
nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi đây từng được mệnh danh là “Miền
đất khát” với sự khan hiếm nước sinh hoạt trầm trọng, đặc biệt là từ
tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ
địa hình núi đá vôi karst, khiến nước mưa thoát nhanh qua các hệ thống
hang đá và khe nứt, dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trong
suốt mùa khô.
Được
sự quan tâm của Nhà nước, thời gian gần đây khu vực này đã đón nhận hàng
loạt chương trình và dự án nghiên cứu cung cấp nước sạch. Các giải pháp
đã được triển khai đa dạng như: xây dựng các công trình hồ treo, hỗ trợ
lu và bể chứa nước, cũng như tổ chức thăm dò, khai thác nguồn nước dưới
đất, nước vách đá và nước mưa. Những nỗ lực này đã giải quyết được phần
nào nhu cầu cấp thiết của người dân địa phương.

Tuy
nhiên, các đánh giá thực tế cho thấy những giải pháp hiện tại mới chỉ
đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho khoảng 20% dân cư khu vực; 80% còn lại vẫn
đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt trầm trọng vào mùa khô,
chưa kể đến nhu cầu về nước sạch và nước phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó,
công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, rừng đầu nguồn
vẫn bị xâm hại và các phương pháp bảo vệ nguồn sinh thủy còn thiếu tính
hợp lý. Công tác quản lý, khai thác tài nguyên nước còn nhiều bất cập,
trong khi ý thức sử dụng nước của cộng đồng vẫn tồn tại hạn chế, gây
lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh.
Để tháo gỡ những khó khăn trên, ThS. Tô Đức Hiện và các cộng sự tại Liên hiệp các Hội KH&KT Hà Giang đã thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu thực trạng và đề xuất biện pháp kiểm soát và khai thác hiệu quả
nguồn nước sinh hoạt gắn với bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu tại
một số khu vực khan hiếm nước vùng núi phía Bắc” theo Quyết định số
466/QĐ-LHHVN ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Liên hiệp các Hội KH&KT
Việt Nam, nằm trong kế hoạch giai đoạn 2020 - 2022.
Địa
bàn triển khai trọng điểm tập trung vào 4 huyện thuộc vùng Cao nguyên
đá Đồng Văn - "tâm điểm" của tình trạng khan hiếm nước tại tỉnh Hà Giang
nói riêng và khu vực miền núi phía Bắc nói chung. Xuất phát từ thực
tiễn triển khai và những kết quả thu thập được, Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật tỉnh Hà Giang đã tổng hợp các nhóm giải pháp đột phá
cùng những đề xuất thiết thực, nhằm tháo gỡ bài toán sinh kế cho người
dân vùng cực Bắc.
Sau
30 tháng thực hiện, mặc dù kinh phí hạn chế, song đề tài đã hoàn thành
toàn bộ nội dung, khối lượng công việc theo đề cương thuyết minh được
duyệt. Đề tài đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu chính bao gồm: (1)
Đánh giá thực trạng công tác quản lý, khai thác, sử dụng nguồn nước sinh
hoạt tại một số khu vực khan hiếm nước vùng núi phía Bắc, điển hình là
tỉnh Hà Giang; (2) Đề xuất các biện pháp nhằm kiểm soát và khai thác
hiệu quả nguồn nước gắn với bảo vệ môi trường (BVMT) và ứng phó với biến
đổi khí hậu (BĐKH).
Kết quả cụ thể của đề tài đã làm rõ các vấn đề sau:
- Hiện trạng tài nguyên nước
Nghiên
cứu cho thấy sự phân bố tài nguyên nước rất không đồng đều. Trong khi
khu vực phía Nam tỉnh Hà Giang có nguồn nước dồi dào, thì khu vực miền
núi phía Bắc lại thiếu nước nghiêm trọng cho cả sinh hoạt và sản xuất.
- Thực trạng khai thác và sử dụng nước
+
Nước mưa: Đây là hình thức phổ biến của các hộ gia đình, đặc biệt ở nơi
dân cư sống phân tán. Tuy nhiên, đa số các bể chứa có quy mô nhỏ, không
đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong mùa khô.
+
Nước dưới đất: Bao gồm giếng khoan, giếng đào và mạch nước lộ. Các mô
hình khai thác mạch lộ tại Cao nguyên đá Đồng Văn cho thấy tính bền vững
cao nhờ ý thức tự giác của cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn sinh thủy.
+
Nước mặt: Bên cạnh việc tận dụng hố đá, triền núi tự phát, Nhà nước đã
đầu tư 121 công trình hồ treo và 864 công trình cấp nước tập trung.
Riêng hệ thống hồ treo có tổng vốn đầu tư trên 1.370 tỷ đồng, đáp ứng
nhu cầu cho hơn 100.400 người (chiếm trên 30% dân số 4 huyện vùng cao).
- Hạn chế và bất cập
Do thiếu duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, hiện trạng hư hỏng công trình rất đáng báo động.
+ Đối với hồ treo: có 22,3% công trình hoạt động kém hiệu quả; 4,1% ngừng hoạt động và 25,4% cần sửa chữa.
+
Đối với các công trình cấp nước tập trung: có tới 55,9% hoạt động kém
hiệu quả và 30,8% đã ngừng hoạt động hoàn toàn. Đặc biệt, chất lượng
nước tại đa số hồ treo chưa đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh nhưng chưa có
biện pháp xử lý triệt để.
- Mô hình thí điểm
Đề
tài đã tổ chức tập huấn và xây dựng quy chế mẫu về quản lý vận hành tại
01 xã điển hình. Kết quả cho thấy cộng đồng đã có chuyển biến tích cực
trong việc chấp hành các quy định, tạo cơ sở thực tiễn để đề xuất các
biện pháp kiểm soát nguồn nước hiệu quả.
Từ
các phân tích trên, đề tài đã xây dựng báo cáo đề xuất với 06 nhóm biện
pháp trọng tâm nhằm phát huy vai trò của tổ chức địa phương và cộng
đồng trong việc khai thác nước gắn với BVMT và ứng phó BĐKH.