Với lợi thế về đa dạng sinh học và nguồn dược liệu bản địa, Việt Nam có tiềm năng phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học
mang thương hiệu quốc gia. Tuy vậy, chúng ta vẫn cần nhiều giải pháp
phát triển, khai thác hiệu quả các tài nguyên đặc hữu, tạo ra sản phẩm
có giá trị kinh tế cao và sức cạnh tranh quốc tế.
Phát triển chưa tương xứng với tiềm năng
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam, công nghệ sinh học là một trong những lĩnh
vực công nghệ chiến lược được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Nhiều
chủ trương, chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát
triển khoa học và công nghệ nói chung, công nghệ sinh học nói riêng, như
Nghị quyết số 36-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW
cùng hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ, chuyển giao công
nghệ, sở hữu trí tuệ; các cơ chế, chính sách phát triển công nghệ chiến
lược của Chính phủ.
Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn không ít khó
khăn, vướng mắc, nhất là công nghệ sinh học Việt Nam hiện đang đối mặt
với một số điểm nghẽn. Trong đó, hành lang pháp lý và cơ chế quản lý
chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ; nhiều lĩnh vực mới như
chỉnh sửa gien, liệu pháp tế bào, liệu pháp miễn dịch, thuốc sinh học
hay sinh học tổng hợp vẫn thiếu quy định cụ thể để triển khai nghiên cứu
và thương mại hóa.
Bên cạnh đó, hạ tầng nghiên cứu và sản xuất đạt chuẩn quốc tế còn
thiếu và yếu, nhất là các trung tâm tiền lâm sàng, phòng thí nghiệm đạt
chuẩn GLP (thực hành sản xuất tốt) và cơ sở sản xuất theo tiêu chuẩn GMP
(thực hành tốt phòng kiểm nghiệm) phục vụ phát triển thuốc, vắc-xin và
sản phẩm công nghệ cao.
Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này cũng còn hạn chế;
doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực làm chủ công nghệ lõi, khiến
nhiều kết quả nghiên cứu chưa được chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị
thương mại. Đáng chú ý, khoảng cách lớn giữa thị trường công nghệ sinh
học Việt Nam và thế giới phản ánh rõ sự chênh lệch về trình độ khoa học
và công nghệ, năng lực thương mại hóa và mức độ đầu tư.
Hiện nay, quy mô thị trường công nghệ sinh học toàn cầu năm 2025 ước
đạt khoảng 1.800 tỷ USD, trong đó phần lớn giá trị tập trung ở các lĩnh
vực công nghệ cao như dược sinh học, sinh phẩm phục vụ chẩn đoán và y
học chính xác, hay các công nghệ tiên tiến như liệu pháp gien, tế bào và
y học tái tạo, những lĩnh vực có hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng
rất lớn.
Trong đó, các quốc gia dẫn đầu như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu, Nhật Bản,
Hàn Quốc đã đầu tư bài bản suốt nhiều thập kỷ để hình thành hệ sinh
thái hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến thương mại hóa, qua đó chiếm lĩnh thị
trường toàn cầu. Trong khi thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam
mới chỉ đạt khoảng 1,5 tỷ USD, chiếm tỷ trọng rất nhỏ cả trên bình diện
toàn cầu lẫn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Đưa công nghệ sinh học thành động lực phát triển kinh tế
Với nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách và tiềm năng, Việt Nam có
thể bứt phá trong lĩnh vực công nghệ sinh học nếu có lộ trình phát triển
bài bản, dài hạn và gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho rằng, với quy mô dân số hơn 100
triệu người cùng lượng khách quốc tế lớn, công nghệ sinh học nước ta
hoàn toàn có thể trở thành ngành kinh tế chiến lược trong 10-20 năm tới,
không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn mở rộng sang du lịch, y tế
và dịch vụ y sinh khu vực. Trong đó, cần ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng
nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, hình thành các trung tâm có khả năng triển
khai xuyên suốt từ nghiên cứu đến thương mại hóa.
Song song với đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo
hướng liên ngành, đủ năng lực làm chủ công nghệ lõi và tham gia chuỗi
giá trị toàn cầu. Một hướng đi quan trọng nữa là tập trung vào các lĩnh
vực có lợi thế như dược liệu, công nghệ sinh học nông nghiệp nhiệt đới,
vắc-xin, vi sinh và y sinh học, qua đó tạo ra các sản phẩm mang bản sắc
riêng và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế, chính sách đủ mạnh để thúc đẩy doanh
nghiệp đầu tư, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cũng như sớm
xây dựng hành lang pháp lý linh hoạt, tiệm cận quốc tế bao gồm các cơ
chế thử nghiệm cho công nghệ mới nhằm vừa kiểm soát rủi ro, vừa thúc đẩy
nghiên cứu và thương mại hóa. Việc hợp tác quốc tế cần được đẩy mạnh
theo hướng tiếp nhận và làm chủ công nghệ, từng bước hình thành các sản
phẩm và doanh nghiệp công nghệ sinh học mang thương hiệu Việt Nam, có
sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.
Để phát huy nguồn lực, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
xác định sẽ tập trung phát triển những lĩnh vực công nghệ sinh học có
tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, gắn với nhu cầu thực tiễn của đất
nước và xu hướng công nghệ chiến lược. Trong đó, ưu tiên các lĩnh vực
như chế phẩm vi sinh sinh học, vắc-xin thế hệ mới, sinh phẩm chẩn đoán
và các sản phẩm y sinh phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Các công nghệ nền tảng như công nghệ Omics, sinh học hệ thống, trí
tuệ nhân tạo trong sinh học, chỉnh sửa gien, liệu pháp tế bào, sinh học
tổng hợp và y học chính xác sẽ được đầu tư theo hướng dài hạn nhằm tạo
đột phá về năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi; đầu tư mạnh cho
các trung tâm nghiên cứu hiện đại, hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn
quốc tế, các cơ sở nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng, cũng như hạ
tầng dữ liệu sinh học và dữ liệu gien người Việt.
Thực tế cho thấy, Việt Nam có lợi thế rất lớn về đa dạng sinh học và
nguồn dược liệu bản địa. Vì vậy, cùng với nghiên cứu cơ bản, việc chú
trọng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết giữa
đào tạo-nghiên cứu-doanh nghiệp, theo chuẩn quốc tế nhằm thúc đẩy
thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ với nhu cầu của các
địa phương góp phần đưa công nghệ sinh học thật sự trở thành động lực
phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn tới.