Ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ KH&CN) - ẢNh: VGP/Thu Giang
Nghị
quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược, động lực
chính để Việt Nam bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Để
hiện thực hóa mục tiêu này, hàng loạt cơ chế, chính sách ưu đãi vượt
trội đã được ban hành nhằm khơi thông nguồn lực, tạo hành lang pháp lý
thuận lợi cho phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược.
Không dừng lại ở tư duy gia công, phụ thuộc nhập khẩu công nghệ
Theo
ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ
KH&CN), tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 57 là kiên quyết không
dừng lại ở tư duy gia công hay phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Mục
tiêu đặt ra là phải tập trung làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến
lược, từng bước xây dựng nền công nghệ tự lực, tự cường của đất nước.
Để
hiện thực hóa khát vọng đó, Việt Nam đã xây dựng hành lang pháp lý
tương đối đồng bộ cho phát triển công nghệ chiến lược. Hai trụ cột quan
trọng là Luật KHCN và Đổi mới sáng tạo và Luật Công nghệ cao đã tạo nền
tảng thể chế cho giai đoạn phát triển mới.
Cùng với đó, Nghị định
số 260/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Công nghệ cao đã cụ thể hóa các cơ chế hỗ trợ phát triển công
nghệ chiến lược. Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-CP
quy định danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược,
làm căn cứ để định hướng đầu tư, phát triển.
Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giao
nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, tạo điều kiện để các bộ, ngành
cùng tham gia thực hiện.
"Đây có thể coi là tuyên ngôn hành động
và là hành lang pháp lý vững chắc để chúng ta bắt đầu triển khai phát
triển công nghệ chiến lược, khơi thông các nguồn lực phục vụ mục tiêu
làm chủ công nghệ", ông Nguyễn Phú Hùng nhấn mạnh.
Ưu đãi vượt trội cho doanh nghiệp và tổ chức phát triển công nghệ chiến lược
Một
trong những điểm nổi bật của hệ thống chính sách mới là tinh thần ưu
đãi vượt trội và cam kết mạnh mẽ của Nhà nước đối với các tổ chức, cá
nhân dám đầu tư, nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
Theo đó, doanh nghiệp và trung tâm nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược được hưởng nhiều ưu đãi ở mức cao nhất hiện nay.
Cụ
thể, Nghị định số 260/2026/NĐ-CP quy định mức uu đãi, hỗ trợ khi thực
hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược như: Được Nhà nước hỗ trợ
tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do
Nhà nước đặt hàng, tài trợ từ Quỹ NAFOSTED, Quỹ bộ ngành địa phương;
được ưu tiên thực hiện thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản
phẩm, mô hình kinh doanh mới; ưu tiên sử dụng dịch vụ tại các trung tâm
nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia do Nhà
nước đầu tư.
Đối với ưu đãi, hỗ trợ về thuế, tổ chức, cá nhân thực
hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược được miễn
thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng,
tài liệu, sách báo khoa học chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu
và phát triển công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên
cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ
chiến lược cũng được hỗ trợ lãi suất vay thông qua nhiệm vụ hỗ trợ lãi
suất vay từ Quỹ NATIF, Quỹ bộ ngành địa phương theo quy định của pháp
luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Mức hỗ trợ lãi
suất vay được xác định bằng 100% lãi suất cho vay theo hợp đồng cho vay
đã ký kết giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp nhưng không quá 10%/năm.
Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa không quá 05 năm.
Những chính
sách này được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp mạnh dạn
đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm công
nghệ chiến lược.
Chương trình quốc gia đặc biệt với nhiều cơ chế chưa từng có
Nghị
định số 260/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các loại hình nhiệm vụ
thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Chương
trình được thiết kế với ba nhóm nhiệm vụ chính. Nhóm thứ nhất là các
nhiệm vụ do Chính phủ giao, mang tính chất đặt hàng từ trên xuống đối
với các bộ, ngành. Các bộ, ngành sẽ xây dựng hồ sơ đề xuất, gửi Bộ
KH&CN thẩm định trước khi hoàn thiện và tổ chức triển khai.
Nhóm
thứ hai xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của các bộ, ngành và địa phương.
Trên cơ sở đề xuất gửi về Bộ KH&CN, Bộ sẽ tổ chức đánh giá, lựa
chọn và hỗ trợ phát triển công nghệ, sản phẩm chiến lược phù hợp.
Nhóm
thứ ba là các nhiệm vụ tài trợ dự án nhằm tìm kiếm các giải pháp công
nghệ đột phá. Bộ KH&CN sẽ thông qua các quỹ để tổ chức kêu gọi, tiếp
nhận đề xuất và lựa chọn các dự án có tiềm năng phát triển công nghệ
chiến lược.
Cả ba nhóm nhiệm vụ đều nằm trong khuôn khổ Chương
trình quốc gia đặc biệt, được thiết kế với những cơ chế, chính sách mang
tính đột phá, chưa từng có.
Một trong những điểm mới đáng chú ý
là cơ chế khoán chi theo các mốc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Theo đó, kinh phí được giải ngân và quyết toán tương ứng với tiến độ,
kết quả đạt được của từng giai đoạn nghiên cứu, phát triển công nghệ.
Bên
cạnh đó, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân chủ trì nhiệm vụ được
trao quyền tự chủ cao hơn trong quản lý tài chính, tổ chức thực hiện và
lựa chọn nhà thầu. Cơ chế này nhằm khắc phục tình trạng chậm trễ do các
thủ tục hành chính kéo dài, vốn là một trong những rào cản đối với hoạt
động nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Đặc biệt, chương trình
cho phép triển khai cơ chế nghiên cứu độc lập đa phương - một cơ chế mới
chưa từng được áp dụng trước đây. Đối với các bài toán công nghệ lớn,
Nhà nước có thể lựa chọn đồng thời hai tổ chức cùng nghiên cứu theo
những phương án công nghệ khác nhau.
Thông qua việc đánh giá kết
quả theo từng mốc thực hiện, cơ quan quản lý sẽ lựa chọn phương án tối
ưu nhất để tiếp tục đầu tư và phát triển. Cách tiếp cận này không chỉ
thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong nghiên cứu mà còn góp phần nâng cao
khả năng tìm kiếm các giải pháp công nghệ mang tính đột phá.
Ngoài
ra, cơ chế đặc thù cho nhân tài cũng được thiết kế theo hướng linh
hoạt, tạo điều kiện để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành
trong và ngoài nước thông qua chính sách tiền lương, tiền thưởng tương
xứng với năng lực và đóng góp.
Theo ông Nguyễn Phú Hùng, về cơ
bản, khung thể chế cho phát triển công nghệ chiến lược đã được hình
thành. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tổ chức triển khai hiệu quả
các cơ chế, chính sách đã được ban hành.
Bộ KH&CN kỳ vọng, với
sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành cùng
tinh thần dấn thân của cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ nhà khoa học,
Việt Nam sẽ từng bước làm chủ được các công nghệ chiến lược, tạo ra
những cú hích mới cho tăng trưởng kinh tế - xã hội trong thời gian tới.
Tuy
nhiên, ông Nguyễn Phú Hùng cũng cho rằng việc xây dựng thể chế cho lĩnh
vực công nghệ chiến lược là vấn đề mới, được triển khai trong thời gian
gấp rút, do đó khó tránh khỏi những bất cập phát sinh trong quá trình
thực hiện.
"Chúng tôi mong muốn nhận được sự phản hồi từ các nhà
khoa học, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý để tiếp tục hoàn thiện
chính sách, tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhất cho phát triển công
nghệ chiến lược", ông Nguyễn Phú Hùng cho biết.