Phát
triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược được xác
định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực tự chủ
quốc gia - Ảnh: VGP/TG
Các quyết định này
góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đưa các
định hướng lớn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào
thực tiễn thông qua những nhiệm vụ và sản phẩm công nghệ chiến lược cụ
thể.
Theo ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật
và Công nghệ (Bộ KH&CN), phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm
công nghệ chiến lược là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực tự chủ
quốc gia, tạo động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa mục tiêu đưa
Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Để
hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện khung
chính sách, từ xác định các lĩnh vực ưu tiên đến xây dựng cơ chế triển
khai cụ thể, gắn công nghệ với các bài toán phát triển thực tiễn của đất
nước.
Một dấu mốc quan trọng là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh
mục sản phẩm công nghệ chiến lược, thay thế Quyết định số 1131 trước
đây.
Theo ông Lưu Quang Minh, đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác lập khung ưu tiên quốc gia về công nghệ chiến lược, làm
căn cứ để các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và
trường đại học định hướng hoạt động nghiên cứu, đầu tư, phát triển sản
phẩm, từng bước hình thành năng lực cạnh tranh công nghệ trong tương
lai.
Điểm mới nổi bật của Quyết định số 21 là cách tiếp cận lựa
chọn công nghệ không chỉ dựa trên xu hướng phát triển của thế giới mà
xuất phát từ các bài toán lớn của quốc gia, của nền kinh tế và của từng
ngành, lĩnh vực cụ thể.
Theo đó, mỗi công nghệ được lựa chọn đều
phải gắn với sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể, với công nghệ lõi cần
làm chủ, với chủ thể có khả năng triển khai và thị trường đầu ra rõ
ràng. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng lựa chọn công nghệ theo
phong trào hoặc đầu tư dàn trải nhưng không tạo ra được sản phẩm có giá
trị thực tiễn và năng lực công nghệ thực chất.
Danh mục công nghệ
chiến lược được xác định tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo
động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động,
năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời phục vụ yêu cầu bảo đảm quốc
phòng, an ninh và tự chủ chiến lược.
Các nhóm công nghệ ưu tiên
bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn
và chip chuyên dụng, mạng viễn thông thế hệ mới, robot và tự động hóa,
bản sao số, an ninh mạng, y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu mới,
công nghệ đất hiếm, hàng không vũ trụ, công nghệ đường sắt hiện đại cùng
nhiều công nghệ nền tảng khác.
Đây đều là những lĩnh vực có tiềm
năng hình thành các ngành công nghiệp mới, đồng thời góp phần giảm sự
phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu trong các lĩnh vực then chốt.
Ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ KH&CN) - Ảnh: VGP/TG
Từ xác định ưu tiên đến tổ chức thực hiện
Tuy nhiên, theo đại diện Bộ KH&CN, việc ban hành danh mục công nghệ chiến lược mới chỉ là bước khởi đầu.
Thực
tiễn cho thấy, nếu chỉ có danh mục ưu tiên mà thiếu các nhiệm vụ cụ
thể, thiếu chủ thể triển khai, thiếu nguồn lực đầu tư và cơ chế đánh giá
đầu ra thì rất khó chuyển hóa định hướng chính sách thành năng lực công
nghệ thực tế.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định 808/QĐ-TTg về các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến
lược và sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với các bài toán lớn của đất
nước.
Ông Lưu Quang Minh cho rằng đây là bước chuyển rất quan trọng từ giai đoạn xác định ưu tiên sang giai đoạn tổ chức thực hiện.
“Nếu
Quyết định số 21 trả lời câu hỏi Việt Nam cần ưu tiên những công nghệ
và sản phẩm nào thì Quyết định số 808 trả lời câu hỏi những ưu tiên đó
sẽ được triển khai thông qua nhiệm vụ gì, gắn với bài toán nào, có sự
tham gia của những chủ thể nào và hướng tới kết quả gì”, ông Minh nhấn
mạnh.
Theo cách nhìn này, Quyết định số 21 đóng vai trò như một
khung chiến lược, trong khi Quyết định số 808 chính là khung hành động
để hiện thực hóa chiến lược đó.
Một trong những điểm mới đáng chú ý
của Quyết định số 808 là yêu cầu triển khai công nghệ chiến lược theo
một chuỗi hoàn chỉnh. Chuỗi này bắt đầu từ việc xác định các bài toán
lớn của quốc gia, lựa chọn sản phẩm công nghệ chiến lược, bóc tách công
nghệ lõi cần làm chủ, xác định chủ thể thực hiện, đến xây dựng thị
trường đầu ra và xác định đơn vị sử dụng sản phẩm.
Cách tiếp cận
này được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng nghiên cứu khoa học tách rời
nhu cầu thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, viện nghiên
cứu, trường đại học và cơ quan quản lý cùng tham gia vào một chuỗi phát
triển thống nhất.
Theo ông Lưu Quang Minh, năng lực tự chủ công nghệ không thể hình thành từ một vài đề tài nghiên cứu đơn lẻ.
Để
làm chủ công nghệ, cần có hệ sinh thái đồng bộ bao gồm hạ tầng nghiên
cứu hiện đại, hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm, trung tâm thử nghiệm,
hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh
nghiệp đủ năng lực dẫn dắt thị trường.
Đây chính là những điều
kiện nền tảng để các kết quả nghiên cứu có thể được chuyển hóa thành sản
phẩm, sản phẩm được đưa ra thị trường và doanh nghiệp Việt Nam từng
bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Theo
ông Lưu Quang Minh, tác động kỳ vọng của Quyết định số 21 và Quyết định
số 808 không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm một danh mục công nghệ ưu tiên,
mà quan trọng hơn là tạo ra một phương thức mới trong tổ chức phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đó là sự chuyển đổi
từ nghiên cứu phân tán sang triển khai có trọng tâm, trọng điểm; từ lựa
chọn công nghệ theo xu hướng sang phát triển công nghệ theo bài toán
thực tiễn; từ hỗ trợ riêng lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi; từ tập trung vào
kết quả nghiên cứu sang hướng tới sản phẩm, thị trường và năng lực công
nghiệp.
Nếu được triển khai hiệu quả trong thời gian tới, hai
quyết định này được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành năng lực công nghệ
nội sinh của Việt Nam, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào
nhập khẩu, tạo ra các sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng cao và thúc
đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp mới dựa trên tri thức, dữ
liệu, công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo.