Nghiên cứu về phương thức sản xuất mới trong thời kỳ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo
Khi lực lượng sản xuất
tiến hóa đến một ngưỡng giới hạn, nó sẽ va chạm và xung đột gay gắt với
cái vỏ chật hẹp của quan hệ sản xuất cũ. Cuộc khủng hoảng tất yếu ấy
buộc xã hội phải thay đổi quan hệ sản xuất để mở đường cho một phương
thức sản xuất mới, tiên tiến hơn ra đời.
Việc đẩy mạnh đầu tư, triển khai các công nghệ y tế tiên tiến như robot
phẫu thuật và hệ thống can thiệp điều trị hiện đại (Robot Modus V
Synaptive) tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là một minh chứng cho vai trò
của khu vực kinh tế tư nhân trong việc tiên phong đổi mới sáng tạo, làm
chủ công nghệ hiện đại, góp phần hình thành và thúc đẩy phát triển lực
lượng sản xuất mới trong lĩnh vực y tế.
Trong buổi làm việc với Hội đồng Lý luận
Trung ương về triển khai các nhiệm vụ lý luận nhiệm kỳ 2026-2031, Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Hội đồng Lý luận Trung ương nghiên
cứu sâu hơn về chủ nghĩa xã hội, mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam trong điều kiện biến đổi của thời đại, nhất là xây
dựng địa phương xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ và những nhân tố mới
đang hình thành trong thực tiễn để thiết thực phục vụ công tác lãnh đạo,
chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đòi
hỏi các cơ quan chức năng cần khẩn trương nghiên cứu để tìm hướng đi
mới cho phương thức sản xuất của đất nước trong kỷ nguyên của khoa học,
công nghệ và chuyển đổi số.
Chúng ta đang ở kỷ nguyên mà trí tuệ nhân
tạo (AI) và tự động hóa đã vươn lên thiết lập nên một lực lượng sản xuất
mới mang sức mạnh siêu năng. Ở đó, cấu trúc cốt lõi của lực lượng sản
xuất (công cụ, con người) đã hoàn thành một bước nhảy vọt về chất: Công
cụ lao động không còn là máy móc cơ học thuần túy, mà là AI với tốc độ
xử lý nhanh như ánh sáng; con người cũng bước ra khỏi vai trò lao động
cơ bắp hay các tác vụ lặp đi lặp lại để trở thành những chủ thể định
hướng, sáng tạo và quản trị chiến lược.
Theo đòi hỏi khách quan của lịch sử, khi
lực lượng sản xuất mới này bùng nổ, nghĩa là "động cơ" tạo ra giá trị
thặng dư đã dịch chuyển sang sức mạnh tính toán siêu năng của máy móc
dưới sự điều khiển của tư duy con người thì chúng ta buộc phải chủ động
điều chỉnh, thiết lập một quan hệ sản xuất mới tương thích về cả sở hữu,
phân công và phân phối. Chỉ khi kiến tạo được một quan hệ sản xuất tiến
bộ, chúng ta mới giải phóng được sức đổi mới, sáng tạo của mọi nguồn
lực xã hội, đưa hiệu suất lao động nhân lên hàng chục, hàng trăm lần
trong thời đại AI.
Theo nguyên lý gốc của Chủ nghĩa Marx,
phương thức sản xuất chính là sự thống nhất biện chứng, có tính quy
luật giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Khi sáng tạo ra mô
hình kinh điển này, Karl Marx không đơn thuần đưa ra một công thức kinh
tế học khô khan, mà ông đã đặt nền móng cho một phương pháp luận triết
học vĩ đại: Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra
các quy luật vận động khách quan, chứng minh rằng lịch sử phát triển của
nhân loại có tính tất yếu, đó là một quá trình lịch sử-tự nhiên, hoàn
toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân nào.
Đối với Marx, phương thức sản xuất không
phải là một phép cộng cơ học, mà là "bộ gen" quyết định tính chất và
diện mạo của một hình thái kinh tế-xã hội, được cấu thành từ sự tác động
qua lại giữa hai mặt lõi: Lực lượng sản xuất (mang tính động vì con
người luôn cải tiến công cụ lao động) và quan hệ sản xuất (mang tính
tĩnh hơn vì đây là thể chế quy định về sở hữu tư liệu sản xuất, phân
công lao động, phân phối của cải).
Bằng cách dùng mô hình này làm công cụ
giải phẫu lịch sử, ông đã chỉ ra quy luật vận động khách quan: Khi lực
lượng sản xuất tiến hóa đến một ngưỡng giới hạn, nó sẽ va chạm và xung
đột gay gắt với cái vỏ chật hẹp của quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời.
Cuộc khủng hoảng tất yếu ấy buộc xã hội phải thay đổi quan hệ sản xuất
để mở đường cho một phương thức sản xuất mới tiên tiến hơn ra đời. Chính
phương pháp triết học sắc bén này của Marx là chiếc "kính hiển vi" giúp
chúng ta nhìn ra sự bế tắc tiềm ẩn của hệ thống tư bản hiện tại trước
làn sóng AI và tự động hóa vì ở đó đang tồn tại mâu thuẫn giữa năng lực
sản xuất khổng lồ của xã hội và giới hạn của cơ chế phân phối dựa trên
sở hữu tư nhân; đồng thời là kim chỉ nam khoa học để Việt Nam chủ động
kiến tạo một phương thức sản xuất mới, giải phóng toàn diện nguồn lực
của đất nước trong kỷ nguyên AI.
Chúng ta cùng nhìn lại lịch sử: Năm 1987,
Việt Nam có 2 triệu người thiếu đói. Năm 1988, Bộ Chính trị ban hành
Nghị quyết 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10).
Chỉ sau đúng một năm, vào năm 1989, Việt Nam lập tức xoay chuyển cục
diện, trở thành nước xuất khẩu gạo trên thế giới.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị nêu: (Thực hiện chế độ tự quản lý của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất)
"Sản phẩm ngoài phần làm nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước và thực hiện
các hợp đồng đã ký với các tổ chức kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, tập
đoàn sản xuất được tự do sử dụng và tiêu thụ ở thị trường có lợi nhất;
các tổ chức kinh tế quốc doanh muốn mua thêm, phải theo đúng nguyên tắc
thuận mua vừa bán"; (Chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân trong nông, lâm, ngư nghiệp)
"Trừ phần nộp thuế bằng hiện vật (nếu có) và bán sản phẩm cho các tổ
chức kinh tế quốc doanh theo hợp đồng kinh tế đã ký, các hộ cá thể, tư
nhân được quyền tự do tiêu thụ sản phẩm ở nơi có lợi; các tổ chức kinh
tế quốc doanh và tập thể muốn mua phải theo đúng nguyên tắc thuận mua
vừa bán, không được ép cấp, ép giá"; (Về kinh tế gia đình) "Sản
phẩm làm ra, gia đình được quyền sử dụng và bán ở nơi có lợi; các tổ
chức kinh tế quốc doanh và tập thể muốn mua phải theo đúng nguyên tắc
thuận mua vừa bán".
Chân lý cốt lõi của Khoán 10 không nằm ở
việc Nhà nước cầm tay chỉ việc, ra lệnh cho người nông dân phải cày cấy
thế nào, mà xét về thực chất thể chế, Nghị quyết đã bằng cách trao cho
người sản xuất cụ thể: tự do tiêu thụ sản phẩm sau nghĩa vụ, tự chủ sản
xuất kinh doanh, tự quyết kế hoạch theo tín hiệu cầu, được mua bán
"thuận mua vừa bán", được giữ phần lớn thành quả lao động. Nguyên tắc
"thuận mua vừa bán" được lặp lại như một điệp khúc-đó chính là nguyên lý
giá cả thị trường tự nguyện thay cho ép giá hành chính. Động lực năng
suất nằm chính ở đây, làm càng nhiều, phần được tự do định đoạt càng
lớn. Chính việc gỡ bỏ ràng buộc mệnh lệnh-trả lại sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất đã giải phóng động lực của
hàng triệu hộ nông dân và tạo ra bước nhảy về năng suất nông nghiệp.
Hiện nay, dù chúng ta ban hành nhiều Nghị
quyết, nhưng nền kinh tế có thể vẫn đang cần một "Khoán 10" toàn diện
mang tính bước ngoặt để mở rộng cửa cho doanh nghiệp. Một thực trạng
đáng trăn trở là khối doanh nghiệp nhà nước ở một số lĩnh vực đang vô
tình làm ảnh hưởng đến không gian phát triển của thị trường.
Điển hình như thời gian qua, một số doanh
nghiệp công nghệ lớn vẫn trực tiếp tham gia cạnh tranh những gói thầu
công nghệ quy mô nhỏ chỉ trị giá vài trăm triệu đồng. Dưới lăng kính cấu
trúc tài chính và hệ sinh thái doanh nghiệp, việc các "ông lớn" công
nghệ tham gia thâu tóm những gói thầu thương mại nhỏ không chỉ là sự sai
lệch vị thế, mà bản chất là một hình thức dẫm chân, có thể bóp nghẹt hệ
sinh thái doanh nghiệp tư nhân…
Trong buổi làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và các
cơ quan liên quan về xây dựng Nghị quyết về giải pháp chiến lược thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới
(tháng 3/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề nghị tiếp tục
làm rõ hơn nội dung của việc xác lập mô hình tăng trưởng mới. Phải
chuyển đổi căn bản về cấu trúc động lực, tức là thay đổi “động cơ” của
nền kinh tế chứ không chỉ đơn thuần là điều chỉnh cách vận hành, để hình
thành một nền kinh tế hiện đại, năng suất cao, có khả năng cạnh tranh
toàn cầu.....
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương cần khẩn trương thực thi nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có hai nội dung cốt lõi:
Một là: Tiếp tục đẩy mạnh
cổ phần hóa, thoái vốn toàn bộ doanh nghiệp Nhà nước ở các lĩnh vực có
tính chất cạnh tranh thương mại thuần túy; chỉ giữ lại những huyết mạch
cốt lõi về an ninh quốc phòng, an sinh xã hội và hạ tầng trọng yếu quốc
gia. Phần còn lại, hãy để quy luật thị trường tự do điều tiết; Nhà nước
giữ vai trò kiến tạo, xây dựng pháp quyền và phục vụ để khối kinh tế tư
nhân giải phóng tối đa năng lực tạo ra của cải cho xã hội.
Hai là: Thiết lập công cụ
quản trị gắn chặt “Chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động chính trị” với
"KPI làm kinh tế" cho đội ngũ lãnh đạo bộ máy. Thước đo đánh giá, thăng
tiến của quan chức địa phương phải được định lượng hóa bằng sự thịnh
vượng của chính vùng đất họ quản lý, cụ thể là tỷ lệ tăng trưởng GRDP,
tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân lập mới và số lượng công
ăn việc làm thực tế được tạo ra cho người dân - đây chính là thị trường
tự do, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. Việc kết hợp giữa
lý luận thị trường tự do để mở đường và KPI thực chiến để thúc đẩy hành
động sẽ phá vỡ hoàn toàn các điểm nghẽn.
Chúng ta cần nghiên cứu, khảo sát thực tế,
cơ sở lý luận để từ đó có thể xác lập phương thức sản xuất mới, thí dụ
như: Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.... đưa Việt Nam trở thành quốc
gia tiên phong trên thế giới vận dụng quy luật này đồng bộ trên quy mô
toàn nền kinh tế, tạo ra đột phá mọi lĩnh vực đều tăng trưởng 2 con số
trong thời gian ngắn giống như Khoán 10 trong nông nghiệp.
Mục tiêu quan trọng mà chúng ta hướng đến
là: Sử dụng triệt để động lực mạnh mẽ của thị trường tự do và hiệu suất
siêu năng của AI để phát huy sức đổi mới, sáng tạo bình đẳng của mọi
nguồn lực xã hội, tạo ra lượng của cải thặng dư khổng lồ cho xã hội;
nhưng ngay lập tức, dưới sự điều tiết của thể chế pháp quyền Xã hội chủ
nghĩa, lượng thặng dư ấy được chuyển hóa thành phúc lợi xã hội, tái đầu
tư vào phát triển toàn diện con người và bảo đảm "không ai bị bỏ lại
phía sau". Đây chính là lực bật mạnh mẽ, là cơ sở lý luận vững chắc nhất
để Việt Nam bứt phá tăng trưởng 2 con số trên mọi lĩnh vực, tự tin xây
dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của
khoa học, công nghệ và chuyển đổi số....